DK1 : những hi sinh thầm lặng của 20 năm
Link
Kỳ 1: Họ ở đó, 20 mùa dông bão

TT - Với mệnh lệnh “bằng bất cứ giá nào chúng ta cũng phải giữ cho được thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc”, tháng 6-1989 những người lính hải quân lữ đoàn 171 đã khẩn cấp lên tàu ra khơi, trấn giữ vùng biển chủ quyền của đất nước. Và họ đã sống gian khổ ở đó, qua 20 mùa dông bão, trên những nhà giàn sừng sững giữa biển Đông.

20 năm trước, ngày 5-7-1989, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị về việc xây dựng “Cụm kinh tế - khoa học dịch vụ” trên thềm lục địa phía Nam thuộc đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (gọi tắt là DK1). Và những người đầu tiên nhận lãnh sứ mệnh gian khó này là các cán bộ chiến sĩ của lữ đoàn 171 hải quân. 20 năm qua, vì nhiều lý do, những cống hiến và hi sinh vô cùng to lớn của những người lính DK1 chưa được biết đến đầy đủ...

Bình minh của một ngày đầu tháng 5-2009, sau cơn bão số 1 tàu chúng tôi đến bãi Phúc Tần trên thềm lục địa phía Nam, sau một hải trình gần 1.000 hải lý đi qua 14 đảo và điểm đảo. Trong bụi sóng mịt mù và âm u, bóng những ngôi nhà giàn DK1 hiện ra thấp thoáng. Hầu hết thành viên trẻ tuổi trên con tàu HQ 957 vẫn chưa biết gì về DK1, cũng như về những người lính trong những nhà giàn kỳ lạ trên biển kia.

Nghĩa trang giữa lòng biển Đông

“Toàn tàu báo thức! Báo thức toàn tàu!”. Câu thông báo ngộ nghĩnh nhưng quen thuộc từ loa phóng thanh vang lên lúc 5g. Sáng hôm ấy, 5-5-2009, không như những buổi sáng khác. Ngay trên boong tàu, giữa biển khơi, mọi người sẽ tham dự lễ tưởng niệm các liệt sĩ hi sinh ở thềm lục địa phía Nam.

Sóng vẫn to dù bão số 1 đã đi xa. Con tàu tròng trành, chao qua nghiêng lại. Mọi người cắp chặt tay nhau, nghiêm trang đứng thành hàng ngang hướng về khói hương nghi ngút. Im lặng và thành kính. Chỉ còn nghe những tiếng sóng vỗ dưới thân tàu.

Giọng đại tá Đinh Gia Thật, phó chủ nhiệm chính trị quân chủng hải quân, rất chân tình, như đang tâm sự cùng đồng đội của mình đã hi sinh: “Theo tập quán của những người đi biển, chúng tôi xin được thắp nén hương và thả vòng hoa tưởng niệm nhớ đến hương hồn các đồng chí, để các đồng chí thanh thản ngàn năm, mãi mãi nằm lại cùng biển khơi, cùng chúng tôi canh giữ chủ quyền biển đảo và thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc...”.

Khóc. Những giọt nước mắt lăn dài trên má những chàng trai, cô gái lần đầu đứng giữa nghĩa trang trùng khơi nghe câu chuyện về những người ngã xuống để lá cờ đỏ sao vàng luôn tung bay trên thềm lục địa. Nơi đây, dưới cả ngàn mét nước sâu thăm thẳm kia là hài cốt các anh. Những nhành san hô lộng lẫy nở ở đáy biển kia như là hoa bên nấm mồ liệt sĩ.

Vị trí con tàu buông neo làm lễ tưởng niệm hôm nay chính là bãi Phúc Tần, nơi vào tháng 12-1990, ngôi nhà giàn DK1/3 đã sập đổ vì sóng gió và mang theo vào lòng biển ba người lính. Không chỉ có nhà giàn bị sập, cả tàu hải quân trực bảo vệ cũng bị chìm, hai sĩ quan hi sinh vào năm 1991. Đến mùa mưa bão năm 1998 lại thêm một nhà giàn nữa bị sóng cuốn đi, thêm ba người lính ngã xuống...

Chợt nhớ làm sao những câu thơ da diết của Nguyễn Đức Mậu trong Khúc tưởng niệm những người lính biển: “Thay cho màu cỏ thanh minh là xanh rợp trời cao. Thay cho dòng tên khắc trên bia là trùng trùng sóng trắng. Thay cho đất nâu là vô cùng biển thẳm. Các anh chết rồi tên tuổi cũng lênh đênh... Những bông hoa trôi hoài trên sóng. Nén hương cháy tan vào gió mặn. Chúng tôi nghiêng mình trên biển sớm mai nay...”.

Khi chúng tôi nghiêng mình trong khúc nhạc Hồn tử sĩ, từ xa xa những người lính biển DK1 cũng nghiêm trang hướng về quốc kỳ phấp phới trên tàu HQ 957. Đồng đội của họ đã hi sinh trên vùng biển này. Và họ, những người lính DK1, tiếp tục ở đó qua 20 mùa dông bão, trên những nhà giàn hiên ngang, sừng sững giữa biển Đông để bảo vệ thềm lục địa.

Sóng vẫn lớn. Không ai có thể leo lên nhà giàn thăm hỏi và tặng quà cho anh em chiến sĩ hải quân được. Chỉ có những lời chào chân tình và tiếng hát con gái truyền qua làn sóng điện. Tàu HQ 957 rúc hồi còi dài chia tay đồng đội, rồi thẳng hướng đất liền. Còn nhóm phóng viên chúng tôi quyết định: phải đến “đại bản doanh DK1”.

Cột chủ quyền đặc biệt

15 ngày sau, trong doanh trại của lữ đoàn 171 hải quân ở Vũng Tàu, trung tá Nguyễn Văn Tuyết, phó chủ nhiệm chính trị lữ đoàn 171, đưa chúng tôi đến gặp những viên sĩ quan dạn dày sương gió biển Đông của tiểu đoàn DK1. Câu chuyện dài bắt đầu từ những ngôi nhà đặc biệt giữa trùng khơi.

Đó là những cột mốc chủ quyền đặc biệt: những ngôi nhà bốn chân cắm sâu xuống rạn san hô thuộc thềm lục địa phía Nam. Lính hải quân gọi là nhà giàn hay nhà lô - những ngôi nhà vài chục mét vuông đứng chênh vênh giữa biển. Những nhà giàn đầu tiên ở DK1 được xây dựng từ năm 1989, tức cách nay đúng 20 năm. Tại sao? Mọi chuyện bắt đầu từ cuối năm 1987 đầu năm 1988, khi hải quân nước ngoài tìm mọi cách xâm chiếm vùng biển, hải đảo và thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Thậm chí họ đã sử dụng vũ lực để chiếm một số đảo ở Trường Sa vào tháng 3-1988 và sau đó tàu chiến, tàu thăm dò của họ (mà bây giờ ta hay gọi là “tàu lạ”) bắt đầu xuất hiện sâu trong thềm lục địa phía Nam, nơi có tiềm năng rất lớn về dầu khí và có ý nghĩa chiến lược về an ninh quốc phòng. Không chút do dự, tư lệnh hải quân Giáp Văn Cương đã khẩn cấp giao cho lữ đoàn 171 nhiệm vụ trấn giữ, bảo vệ cho được chủ quyền thềm lục địa phía đông nam. “Bằng bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải giữ cho được chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc!”.

Mệnh lệnh đó của Bộ tư lệnh cũng là lời tuyên thệ bất thành văn của cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 171. Vượt lên những khó khăn chồng chất của cả nước vào những năm tháng ấy, những người lính hải quân 171 bất chấp hiểm nguy và gian khổ đã tiến ra giữa trùng dương.

Tại nhà truyền thống của lữ đoàn 171, những kỷ vật của buổi đầu “dựng nghiệp” lặng im mà trầm tích bao nhiêu câu chuyện bi tráng. Chúng tôi đã lặng người trước máy đo độ sâu hiệu Thomson trưng bày ở nhà truyền thống. Với chiếc máy thô sơ cũ kỹ này, hơn 20 năm trước, biên đội tàu HQ 713 và HQ 668 do trung tá lữ đoàn trưởng 171 Phạm Xuân Hoa chỉ huy đã ra khơi trong mùa sóng gió. Suốt cả tháng trời, biên đội tàu đã khảo sát, đo đạc trên vùng biển rộng 60.000 km2 chỉ nhờ vào chiếc máy này mà tìm ra những điểm cạn và định vị các bãi đá ngầm san hô: Ba Kè, Phúc Tần, Phúc Nguyên, Quế Đường, Tư Chính và Huyền Trân. Chính từ những dữ liệu đó, hệ thống nhà giàn DK1 được xây dựng.

Những nhà giàn thế hệ đầu tiên thật đơn sơ và mỏng manh trước biển cả. Nhưng trên những ngôi nhà giàn đó, ý chí những người lính đầu tiên ra DK1 lại rất kiên cường.

BÙI THANH - LÊ ĐỨC DỤC Xem thêm...
 
toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

DK1 là tên gọi của cụm kỹ thuật - khoa học - dịch vụ được xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Nam thuộc đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (nay là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) với những nhà giàn dựng trên mặt biển. Nhiệm vụ của các nhà giàn là lập các đèn biển để thông báo cho tàu thuyền đánh cá và vận tải hàng hải đi lại trong vùng; đặt trạm nghiên cứu khí tượng thủy văn; làm nơi trú tránh bão và ứng cứu ngư dân...

Nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất của DK1 là chốt giữ, bảo vệ chủ quyền thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, bảo vệ bình yên cho việc khai thác tài nguyên từ thềm lục địa như dầu khí, thủy hải sản, hàng hải...

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Kỳ 2: Những người đầu tiên

TT - Nhắc đến “cái buổi ban đầu gian khó ấy”, trung tá Dương Thế Đường - chỉ huy trưởng ban chỉ huy DK1 - bảo: “Thế hệ đầu tiên của DK1 có người đã ra quân, có người còn ở lại, nhưng lính cựu của DK1 vẫn luôn quấn quýt quanh đây thôi. Anh Nguyễn Văn Nam, “cựu binh số 1” của DK1 giờ đã về hưu, nhà cũng gần đơn vị. Anh Bùi Xuân Bổng còn tại ngũ. Để tôi giới thiệu với các anh ấy”.

“Còn biển là còn người, còn người là còn trạm!”

Nếu như những người lính nhà giàn có một tấm thẻ đánh số thứ tự thì hẳn thượng tá Nguyễn Văn Nam sẽ là người mang tấm thẻ số 001. Tháng 6-1989, đại úy trẻ Nguyễn Văn Nam chỉ huy một đơn vị nhỏ lần đầu tiên ra bám trụ nhà giàn DK1/3 ở bãi Phúc Tần, rồi từ đó anh trở thành chỉ huy trưởng của khung quản lý DK1 suốt gần 20 năm cho đến ngày về hưu. Một thâm niên đáng nể và cũng là một kỷ lục ở DK1. Đã nghỉ hưu nhưng ký ức về tuổi trẻ đời lính và những ngày đầu gian khó của DK1 vẫn còn tươi nguyên trong anh.

Trong căn nhà nhỏ thuộc khu tập thể A đoàn M71 hải quân ở Vũng Tàu, câu chuyện giữa anh Nam với chúng tôi cứ quyện lấy trong bao nỗi niềm riêng chung. Mùa hạ năm 1989, khi nhận nhiệm vụ ra chốt giữ nhà giàn DK1, chưa ai hình dung được cuộc sống trên những ngôi nhà giàn mong manh giữa bao la biển cả sẽ như thế nào. Biển Đông những năm tháng ấy đang “nóng bỏng”, nhưng như bao người lính Việt, anh Nam vẫn thanh thản lên đường khi Tổ quốc cất tiếng gọi. Đi DK1 ngày ấy đồng nghĩa với cuộc chiến sinh tử, khó hẹn ngày về.

Ba ngày trước khi đưa đơn vị khởi hành ra nhà giàn DK1, em trai của anh Nam bị tai nạn qua đời, vợ anh - chị Đặng Thị Thủy - đang ốm nặng. Biết gia đình anh Nam gặp khó khăn, trung tá Phạm Xuân Hoa, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 171, đã đến tận nhà động viên: “Đồng chí cứ chỉ huy anh em ra nhà giàn làm tốt nhiệm vụ. Vợ con ở nhà hãy yên tâm, có đơn vị, có chúng tôi chăm lo!”. Chị Thủy cũng cố tiễn chồng ra cửa, gạt nước mắt dặn chồng: “Anh đi bình an, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Em và con đợi anh về”.

Anh Nam mím chặt môi cố nén xúc động, bế con hôn lên má và giấu giọt nước mắt chực trào ra. Con tàu HQ-727 sau hành trình ba ngày đêm liên tục đã đưa các cán bộ chiến sĩ đầu tiên ra đến nhà giàn Phúc Tần. Đến nơi, anh Nam viết thư gửi theo thuyền về đất liền, thư dặn dò nhờ người em ruột ở Vĩnh Phú: “Nếu anh hi sinh thì chú vào Vũng Tàu đưa vợ con anh về quê sinh sống”. Nắng giữa đại dương cháy da cháy thịt và tiếng gió gào thét suốt đêm ngày, những người lính đầu tiên của DK1 bắt tay vào một cuộc sống mới, một sứ mệnh mới.

Năm đầu tiên trôi qua, đại úy Nguyễn Văn Nam cùng cán bộ chiến sĩ DK1/3 về đất liền cho kíp trực khác ra thay. Chia tay nhà giàn và những người ở lại, anh Nam dặn dò anh em: “Gian khổ thế nào cũng phải giữ vững ý chí chiến đấu. Còn biển là còn người, còn người là còn trạm!”. Chiếc xuồng nhỏ bé chở anh và đồng đội ra tàu 931 về đất liền. Ngồi trên xuồng, ngoảnh lại nhìn lên nhà giàn, anh Nam và mọi người đều bật khóc.

Thương anh em đồng đội, thương ngôi nhà giàn nhỏ bé giữa mênh mông nước cứ như sắp bị nuốt chửng vào lòng biển. 20 năm gắn bó cùng DK1 với 132 chuyến lặn lội ra với biển khơi, “sói biển” Nguyễn Văn Nam đã dâng hiến những năm tháng đẹp nhất đời mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền thềm lục địa.

Khó khăn sinh tử

Nếu thượng tá Nam với gương mặt rất phong trần, tạo ấn tượng của một “sói biển” dạn dày sóng gió thì thiếu tá Bùi Xuân Bổng - cũng là một “sói biển” của DK1 - đang ngồi trò chuyện với chúng tôi, trên gương mặt vẫn mang những nét hiền khô như ngô lúa của một trai làng ra đi từ miền quê Ứng Hòa (Hà Tây cũ).

21 năm tuổi lính, 20 năm gắn bó với nhà giàn. Những hi sinh gian khó của người lính DK1 trong buổi đầu, thậm chí ngay cả khi nhà giàn bị sập, anh Bổng từng cùng đồng đội chống chọi với bão tố, đối mặt với cái chết cận kề nhưng giọng kể của anh vẫn bình thản và dung dị, như thể những khó khăn sinh tử kia là chuyện thường tình.

Và chính từ sự bình thản ấy của anh, chúng tôi nhận ra đó mới là “nội lực thượng thừa” của một người đã đi qua bão tố đại dương, cái vẻ bình thản ấy dễ khiến người đối diện thấy áy náy nếu đã đôi lần trong đời mình trót “cường điệu” những khó khăn vớ vẩn nào đó.

Giờ thì anh Bổng chầm chậm kể về những ngày trên nhà giàn DK1. Ngoài trời, cơn mưa chiều Vũng Tàu theo gió biển quất ràn rạt qua khoảng sân rộng trước doanh trại. Những ngôi nhà giàn thế hệ đầu tiên, do chưa có kinh nghiệm xây dựng, từ mặt biển lên mặt sàn chỉ mấy mét, không đủ đương đầu với sóng to gió lớn, thậm chí nhiều khi sóng đánh tung nước qua kẽ hở ván sàn, có khi hất tung luôn ván.

Nhà giàn thế hệ đầu có kết cấu dạng pông - tông (một dạng phao lớn hình khối hộp làm bằng sắt) đặt lên nền san hô, nên chỉ cần sóng cấp 4 hoặc dòng nước chảy mạnh là khối pông-tông đã dịch chuyển bập bềnh trôi trong nước. Luẩn quẩn trong không gian chật hẹp đó, anh em trên nhà giàn quanh năm trong tình trạng quần áo ẩm ướt, những ngày biển động mạnh thì hầu như ướt sũng cả mấy ngày liền. Nước ngọt bấy giờ chỉ đủ cho mỗi người vài lít/ngày, lắm khi mấy tháng trời không mưa chỉ dám dùng nấu cơm.

Anh Bổng trầm giọng: “Khó khăn đến thế nhưng thật lạ lùng anh em vẫn kiên cường lắm, lạc quan lắm, sẵn sàng chấp nhận hi sinh. Có lẽ có được điều ấy là vì tất cả đều rất trẻ, mới ngoài 20 cả”. Như anh Bổng, 20 tuổi bước chân vào trường sĩ quan pháo phòng không, vừa tốt nghiệp ra trường thì tăng cường cho DK1.

Nếu so sánh những nhà giàn hôm nay với thế hệ nhà giàn đầu tiên thì quả là ngoài tầm mơ ước. Những năm đó phương tiện duy nhất để nắm tin tức đất liền là radio thì hầu như dùng được một thời gian cái nào cũng hỏng, mà sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng chập chờn lúc bắt được lúc không, tivi càng không thể có.

Một anh lính DK1 viết thư cho người yêu để diễn tả sự xa xôi của nhà giàn đã viết: “Chỗ anh đóng quân xa, xa lắm, ngay đến sóng của đài Hà Nội cũng không bắt được!”. Những thứ ở đất liền rất bình thường như rau xanh và nước ngọt thì ở đây cực kỳ hiếm hoi và quý giá. Bạn có bao giờ nghe nói về khô rau muống chưa? Rau muống luộc lên, đem phơi khô trong đất liền rồi mang ra nhà giàn ăn dần, thay rau xanh.

Nhưng khó khăn mỗi ngày như vậy chưa phải là tận cùng. Một đêm mùa đông năm 1990, ngôi nhà giàn DK1/3 ở Phúc Tần đã bị sóng mạnh xô đổ. Vật lộn với sóng biển trong đêm đen cho đến chiều hôm sau anh em trên nhà giàn được tàu cứu, nhưng đã có ba đồng đội của anh Bổng đã nằm lại mãi mãi trong lòng biển sâu.

LÊ ĐỨC DỤC - MAI THẮNG

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Kỳ 3: Đương đầu cùng bão biển

TT - Không chỉ nhà giàn bị sập, có cả những con sóng lớn khiến tàu trực khu vực DK1 cũng bị chìm. Nhớ lại những ngày tháng ấy, những nhân chứng của DK1 mà chúng tôi gặp lại hôm nay đều không khỏi ngậm ngùi.

Những liệt sĩ đầu tiên của DK1

Ở nhà truyền thống của đoàn M71 có một hiện vật nhỏ nhưng nếu ai biết rõ lai lịch sẽ thấu hiểu sự hi sinh của người lính DK1 những ngày đầu. Đấy là tấm thẻ đảng viên của liệt sĩ Trần Hữu Quảng. Hôm diễn ra lễ tưởng niệm ở thềm lục địa, tên của anh được đại tá Đinh Gia Thật, phó chủ nhiệm chính trị quân chủng hải quân, nhắc đến đầu tiên: “Đó là sự hi sinh cao đẹp của trung úy Trần Hữu Quảng - chính trị viên nhà giàn DK1/3 Phúc Tần. Khi nhà bị đổ, anh đã cùng đồng đội bơi nhiều ngày trên biển. Trong lúc sóng to, gió lớn, anh đã nhường chiếc phao cá nhân và miếng lương khô cuối cùng cho người chiến sĩ yếu nhất và đã hi sinh ngày 5-12-1990”.

Anh Bùi Xuân Bổng - lúc bấy giờ là trung úy trạm trưởng DK1/3 - nhớ lại: Lúc đó khoảng 23g30 đêm 4-12, sóng mỗi lúc một mạnh dần, mặt biển đen ngòm. Sóng ập vào nhà giàn ngày càng dữ dội. Nhà nghiêng dần, nghiêng dần. Mọi vật dụng trên nhà bị xô lệch từ góc này sang góc khác. Chính trị viên Trần Hữu Quảng lệnh cho anh em mặc áo phao, sẵn sàng rời đi khi nhà giàn đổ. Nhưng áo phao chỉ còn năm cái trong khi anh em gồm tám người, những cái còn lại do lâu nay ngấm nước biển đã bị bục. Phao cứu sinh khi bơm hơi vào bị nổ, phao bè vốn làm bằng xốp độn bên trong vỏ nhôm, vừa thả xuống đã bị sóng đánh vỡ.

Khoảng 2g sáng, những trận sóng cao ngút trùm lên tận mái rồi phủ xuống khiến nhà giàn sụp hẳn. Tất cả anh em đồng loạt nhảy khỏi giàn, lao xuống những con sóng đang quăng quật dữ dội. Anh Bổng đã không còn áo phao nhưng may mắn vớ được một mảnh phao bè. Đêm mịt mùng, không nhìn thấy bóng ai, sóng biển át cả tiếng gào tên nhau của anh em, giục nhau nương theo dòng chảy ra phía nước sâu, chỗ ấy sóng êm hơn. Mảnh phao bè bị vỡ ra mà anh Bổng vớ được đã kịp được anh lao tới cho hai đồng đội là Phạm Xuân Quỳnh và Hồ Thế Công lúc đó đã đuối sức cùng bám vào.

Chiếc áo phao của anh Quỳnh bị sóng đánh rách mất một nửa. Anh Công bị say sóng sặc nước, chuẩn bị buông tay rời bè, anh Bổng phải xé vải áo buộc chặt anh Công vào mảnh phao. Dầm mình trong sóng biển thét gào từ mờ sáng cho đến suốt một ngày 5-12, nhìn xung quanh không có thêm đồng đội nào. Cũng chính trong đêm ấy, sở chỉ huy đã điều một biên đội với ba tàu lập tức tiếp cận khu vực nhà giàn bị sập để tìm kiếm anh em. Anh Bổng kể khi cả ba anh em đang bám vào phao bè suốt một ngày lênh đênh như thế, ai cũng động viên nhau cố sức bám trụ, thế nào cũng có tàu đến cứu. Tuy nhiên với sóng gió dữ dằn, lại ngâm mình trong nước biển suốt ngày, anh em đều đuối sức.

May sao, chừng 17g ngày 5-12, tàu cứu hộ HQ 711 đã phát hiện mảnh phao có ba anh em Bổng, Quỳnh, Công và tìm thấy anh Báu đang trên một mảnh phao khác. Đến 18g thì gặp anh Lê Văn Trung đang bám vào một phuy nhớt rỗng. Biên đội tàu quần đảo thêm mấy ngày trên vùng biển nhưng không thể tìm thấy Trần Hữu Quảng - chỉ huy phó chính trị, trung sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền và trung úy quân y sĩ Trần Văn Là. Cả ba anh là những người lính đầu tiên hi sinh ở nhà giàn DK1.

Đêm “cúng ông Táo” không quên

Đúng một tháng sau đó, ngày 4-1-1991, con tàu HQ 666 trong chuyến đi trực khu vực DK1 lại bị bão đánh chìm. Và biển thềm lục địa lại ôm vào lòng hai người lính hải quân quả cảm.

Thượng tá Hoàng Văn Tuyên nay là lữ đoàn phó lữ đoàn 171, còn trong trận bão nhấn chìm con tàu HQ 666 năm 1991 là thuyền trưởng. Đó là chuyến đi trực tết ở khu vực bãi Tư Chính. Tàu vừa ra điểm trực được hơn ba tuần thì đã áp tết. Khuya 22 tháng chạp, chỉ vài giờ nữa là ông Táo về trời, anh em trên tàu HQ 666 dù sóng to gió lớn vẫn phấn khởi mổ heo để cúng như phong tục ở đất liền. Heo vừa mổ xong để ở boong tàu thì bất ngờ biển động mạnh, con tàu nhồi lắc dữ dội.

Thuyền trưởng Hoàng Văn Tuyên chuẩn bị đối phó với tình huống xấu nhất. Nhưng con tàu quá bé nhỏ so với những cột sóng cao hàng chục mét, đến 3g sáng thì tàu bị đánh lật nghiêng. Anh em trên tàu thả phao và rời tàu, tất cả đều bám được vào phao bè. Riêng thuyền phó quân sự Phạm Tảo là ngươi bơi rất giỏi đã kịp nhoài theo vừa bơi vừa cõng máy trưởng Lê Tiến Cường bơi yếu hơn. Nhà giàn lô Tư Chính vẫn có thể nhìn thấy mờ mờ trên sóng biển, với sức khỏe của mình anh Tảo nghĩ đủ sức dìu đồng đội bơi về phía đó, nhưng những cột sóng đã đánh lừa tầm mắt anh. Cuối cùng một “rái cá” như anh Tảo cũng đành chịu thua bão tố, nỗ lực dìu đồng đội của anh cũng không thoát khỏi sự dữ dội của biển cả.

Khi biên đội tàu cứu hộ đến cứu được toàn bộ thủy thủ đoàn, máy trưởng Lê Tiến Cường đã chìm vào lòng biển. Tàu HQ 713 tìm thấy duy nhất thi thể của anh Tảo, cũng chính trên tàu HQ 713 này anh Tảo đã làm thuyền phó trước khi về tàu HQ 666. Câu chuyện kể lại sau 18 năm phải dừng lại mấy lần bởi thượng tá Tuyên cố nén những cảm xúc làm anh nghẹn lại. Anh bảo: “Quê anh Tảo ở Quảng Bình, nhà báo nếu có điều kiện thì ghé ra đó sẽ hiểu thêm, anh Tảo hi sinh nhưng hoàn cảnh gia đình tội nghiệp lắm”.

Nghe câu chuyện về những người lính đã hi sinh trên thềm lục địa, mới hay sự hi sinh của các anh lớn hơn rất nhiều những điều mà chúng tôi chỉ nghe kể ngắn gọn trong những biên niên sử của đơn vị này.

LÊ ĐỨC DỤC - BÙI THANH

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Kỳ 4: Đêm xé lòng: 2A đâu? 2A...

TT - Cho đến bây giờ, những người lính biển lữ đoàn 171 vẫn không quên được những gì đã xảy ra với đồng đội của họ trên nhà giàn Phúc Nguyên 2A hơn 10 năm trước: bão tố đã đánh sập nhà giàn giữa đêm khuya, chín chiến sĩ bị cuốn vào sóng dữ.

Ngày 12-12-1998. Cơn bão Faith đang quét qua vùng biển DK1, nơi có hàng trăm chiến sĩ hải quân lữ đoàn 171 đang đồn trú trên những nhà giàn chênh vênh giữa trùng khơi. Trong khi hàng ngàn tàu cá của ngư dân đã vào bờ trú ẩn an toàn thì ở các căn cứ hải quân Hải Phòng, Cam Ranh, Vũng Tàu, mọi người bắt đầu lo lắng về các nhà giàn, cho tính mạng đồng đội. Đó thật sự là một cuộc chiến.

Lệnh báo động từ sở chỉ huy: tất cả các nhà giàn chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng đối phó với sóng gió và tình trạng rung lắc mạnh của các nhà giàn, đề phòng tình huống xấu nhất xảy ra khi nhà giàn bị đổ. Cùng lúc đó, tất cả tàu hải quân có mặt ở khu vực được lệnh nhanh chóng về Côn Đảo tránh bão. Hệ thống thông tin của sở chỉ huy quân chủng, lữ đoàn M71, tất cả các tàu, nhà giàn đều cùng một kênh liên lạc theo quy định. Do vậy, từ tàu HQ 606, thiếu tá Nguyễn Văn Tôn đã nghe được hết “khúc bi tráng 2A” và ghi vào nhật ký của mình. Anh nhớ lại:

...Gió bắt đầu mạnh lên, sóng bạc đầu trắng xóa mặt biển. Lúc 1g30, qua hệ thống thông tin trên tàu HQ 606, chúng tôi nghe được nội dung báo cáo khẩn cấp từ nhà giàn 2A về sở chỉ huy quân chủng: “47 Đà - Lạt 01... 47 Đà - Lạt 01. Báo cáo sóng gió quá lớn, nhà 2A hiện nay đã bị nghiêng, có khả năng sẽ sụp đổ. Trên nhà giàn anh em vẫn bình tĩnh…”. Trên máy sở chỉ huy (Hải Phòng), chúng tôi nghe rất rõ tiếng của trưởng phòng tác chiến quân chủng: “Các đồng chí hãy bình tĩnh, nếu trường hợp xấu nhất nhà đổ thì đã có tàu của ta sẵn sàng vớt, các đồng chí yên tâm!”.

Máy thông tin từ nhà giàn 2A liên tục phát ra giọng nói của chiến sĩ báo vụ Hoàng Xuân Thủy, thông báo nhà giàn đang nghiêng dần: 10 độ, 15 độ... Anh em trên tàu HQ 606 chúng tôi vô cùng hồi hộp và lo lắng, không biết nhà 2A có thể chịu đựng đến mức nào. Sóng gió càng lúc càng mạnh, tính mạng đồng đội đang vô cùng nguy hiểm. Rồi giọng Hoàng Xuân Thủy gào lên trong tiếng rít của gió bão: “Báo cáo sở chỉ huy, sóng gió hiện nay mạnh cấp 9, cấp 10, giật trên cấp 10, chắc nhà 2A sẽ đổ trong chốc lát...”.

Giọng chỉ đạo của trưởng phòng tác chiến vẫn rõ ràng, dứt khoát, nhưng bắt đầu không giấu nổi cảm xúc. Rồi đột nhiên, chúng tôi nghe tiếng của chị Vân báo vụ và trưởng phòng tác chiến gọi dồn dập trên máy: “Quân chủng gọi nhà 2A. 2A nghe tốt trả lời. Quân chủng gọi nhà 2A…2A…2A đâu?...”. Nhưng tất cả chìm trong im lặng. Chúng tôi và những đồng đội đang trên biển đều nghĩ rằng nhà giàn 2A đã bị bão đánh đổ.

Bỗng, đến 2g30 phút cùng ngày, tiếng chiến sĩ báo vụ Hoàng Xuân Thủy đột ngột vang lên: “2A gọi sở chỉ huy… 2A gọi sở chỉ huy…”. Tất cả anh em chúng tôi trên tàu HQ 606 không ai bảo ai, đồng loạt hô lên: “2A chưa đổ! 2A chưa đổ! Thật tuyệt vời!”. Nhưng niềm vui không kéo dài. Tiếng Hoàng Xuân Thủy lại vang lên trong máy: “Báo cáo sở chỉ huy, nhà 2A mất liên lạc là do nhà nghiêng quá, hệ thống ăngten bị đổ. Hiện nay nhà đã nghiêng dữ dội, chắc chỉ trụ được năm bảy phút nữa. Vũ khí, tài liệu đã được anh em gói cẩn thận. Anh em chuẩn bị rời nhà khẩn cấp”. Tiếng chị Vân từ sở chỉ huy bên kia máy đáp gọn gàng: “Sở chỉ huy nhận đủ!”.

Bỗng nhiên chúng tôi nghe Hoàng Xuân Thủy nói đầy xúc động: “Sở chỉ huy cho anh em nhà 2A gửi lời chúc tết đến thủ trưởng quân chủng, lữ đoàn, gửi lời chúc tết tới gia đình chị cùng tất cả đồng chí đồng đội”. Rồi giọng Thủy chùng xuống đầy tha thiết: “Chị Vân ơi! Em là Hoàng Xuân Thủy. Quê em ở Mỹ Sơn, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Bố em là Hoàng Văn Sơn, mẹ em là Lê Thị Thịnh. Nếu em chết, nhờ chị viết thư về báo tin cho nhà em biết. Tạm biệt chị! Tạm...”. Trời ơi, lời nói cuối cùng của Thủy đã bị sóng gió chặt đứt hẳn.

Cuộc kiếm tìm vô vọng

“Sở chỉ huy gọi 2A... Sở chỉ huy gọi 2A... 2A đâu... 2A đâu... 2A đâu... đâu...”. Giọng chị Vân từ sở chỉ huy lạc đi. Chị khóc thành tiếng. Tiếng khóc của một đồng đội, tiếng khóc của một người phụ nữ, một người chị hòa trong gió bão như xé nát ruột gan chúng tôi.

Đồng hồ chỉ 4 giờ 15 phút ngày 13-12-1998. Kể từ lúc này nhà giàn Phúc Nguyên 2A hoàn toàn mất liên lạc. Nhà đổ, họ buộc phải lao xuống biển. Chuyện gì đã xảy ra với họ trong đêm tối bão bùng, chín anh em nhà 2A?

Tin dữ lan nhanh trên các nhà giàn khác ở DK1: 2A đã đổ! Chín đồng đội làm sao chịu nổi những cột sóng bão cao 15-20m? Ai sống ai chết? Tin dữ ấy cũng làm bàng hoàng những đồng đội của họ ở Hải Phòng, Cam Ranh, Vũng Tàu sau khi Hoàng Xuân Thủy nói lời vĩnh biệt đất liền. Mai Thắng, chính trị viên đại đội thông tin lữ đoàn 171, trực ở đài canh thông tin lúc ấy, kể: “Chúng tôi không thể nào quên được chuyện đã xảy ra vào đêm gió bão ấy và đau đớn đến mức không khóc được. Chính tôi là người đã công tác bảy tháng ở nhà giàn Phúc Nguyên 2A nên hiểu chuyện gì xảy ra với đồng đội mình. Nhưng không chỉ tôi. Hai phần ba đại đội thông tin trực đêm ấy đã lặng người đi. Hết ca trực đêm ấy về nhà anh em vẫn không thể nào ngủ được”.

Cũng buổi sáng hôm ấy, tin sập nhà giàn 2A đã lan nhanh trong gia đình cán bộ chiến sĩ lữ đoàn 171. Những người vợ lính tụm lại, buồn bã chia nhau từng chút thông tin về số phận chín đồng đội của chồng họ. Có một người phụ nữ trẻ dường như chết đứng ngay tại ngôi chợ nhỏ gần căn cứ lữ đoàn 171. Đó là vợ của sĩ quan quân y Nguyễn Hữu Tôn, một trong chín người bị bão biển cuốn đi. Chị lao về nhà, chỉ để nhìn hai đứa con bé bỏng, rồi khóc và chờ đợi.

Vào lúc 5g30 ngày 13-12-1998, tàu HQ 606 được lệnh khẩn cấp từ sở chỉ huy: quay tàu vào hướng bão, tìm và cứu đồng đội 2A! “Đó không chỉ là mệnh lệnh của cấp trên mà là mệnh lệnh của lương tâm chúng tôi!” - thiếu tá Nguyễn Văn Tôn bồi hồi nhớ lại. Lúc này sóng gió vẫn đang cấp 8, cấp 9 nên tàu không thể chạy nhanh được, chỉ khoảng 3-4 hải lý một giờ. Rất chậm so với tình huống khẩn cấp như thế này. Đại úy thuyền trưởng Lê Văn Muộn ra lệnh cho anh em trên tàu tập trung quan sát bằng ống nhòm, không để sót vật trôi xung quanh tàu, vì những vật trôi có thể là dấu hiệu để tính toán dòng chảy từ thời điểm nhà 2A bị nạn.

Mãi đến 16g tàu HQ 606 mới đến được tọa độ cần tìm kiếm. “Chúng tôi căng mắt quan sát - thiếu tá Tôn kể - Vì đây là khu vực tâm bão đi qua nên rất nhiều mảnh vỡ của gỗ, can nhựa, thùng xốp... trôi trên biển. Chúng tôi luôn hi vọng những vật đang trôi xa xa kia là những phao bè, phao cứu sinh mà đồng đội 2A đang bám vào. Nhưng khi tàu chạy đến gần, chúng tôi lại òa lên thất vọng”.

Ngoài HQ 606, Bộ tư lệnh Hải quân đã điều thêm ba tàu HQ 624, HQ 608, HQ 957 nhanh chóng về tọa độ X để tham gia chiến dịch tìm kiếm cứu nạn. Bốn tàu chạy theo kiểu bừa răng lược và chia nhau tìm kiếm, không bỏ sót vùng biển nào đã được đánh dấu trên hải đồ. Nhưng vẫn vô vọng và trời đang ngả về chiều. Thiếu tá Tôn nhớ lại giờ phút tuyệt vọng đó: “Chúng tôi hết sức sốt ruột vì trời tối thì việc tìm kiếm sẽ rất khó khăn. Và liệu anh em nhà 2A có đủ sức chịu đựng để qua nổi sóng gió lạnh buốt thấu xương đêm nay không! Mặt trời khuất dần và những tia hi vọng cũng tắt dần theo thời gian”.

BÙI THANH - LÊ ĐỨC DỤC

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Kỳ 5:

Khúc bi tráng trên biển

TT - Lúc những con tàu hải quân kiếm tìm trong vô vọng, chuyện gì đã xảy ra với chín chiến sĩ nhà giàn Phúc Nguyên 2A sau khi nhà giàn bị sóng gió đánh đổ? Một ngày tháng 5-2009 tại Vũng Tàu, chúng tôi tìm gặp thiếu úy Hoàng Xuân Thủy và thiếu tá Nguyễn Hữu Tôn - hai trong số sáu người còn sống sót trở về. Đã hơn 10 năm trôi qua...

Lao xuống biển, cờ Tổ quốc không rời

16g ngày 12-12-1998, trên vùng biển thềm lục địa phía Nam không còn hình bóng một con tàu. Tất cả đã đi tránh bão, chỉ còn lại những nhà giàn cô đơn. Mặt biển mịt mù trắng xóa, gió rít giật ầm ầm. Càng về chiều sóng càng dữ dội. Những con sóng lừng lững như quả núi liên tiếp ập đến làm trạm rung lắc mạnh. Tất cả các cửa hướng đông của nhà giàn đều được đóng kín, vì lúc đó anh em chỉ cần sơ sẩy là gió hất tung xuống biển.

Chỉ huy nhà giàn là đại úy Vũ Quang Chương, 30 tuổi, người Thái Bình. Chương bình tĩnh động viên anh em, phân công từng người lo chuẩn bị áo phao cá nhân, phao bè, lương khô, thuốc men, dây ròng rọc... để sẵn sàng rời nhà giàn lao xuống biển. Đến khoảng 18g30, một cơn sóng cực lớn đánh trùm lên nhà giàn làm nó nghiêng hẳn một bên, lắc lư chao đảo. Tình thế lúc này cực kỳ nguy kịch.

Những tấm gỗ lát mặt sàn bật tung, chiếc tivi trên bàn rơi xuống, toàn bộ giá gạo trong kho đổ sập, giường tủ bàn ghế chạy đi chạy lại, máy phát bị chập, điện tắt ngấm. Trung úy Nguyễn Văn Hoan vào kho lấy bao gạo ra chèn phao cứu sinh và chân giường tránh va đập, liền bị toàn bộ giá gạo đổ sập xuống vai. Hoàng Xuân Thủy thì bị chiếc tủ sắt đổ vào người toạc máu ở bụng.

Sóng mỗi lúc một to, tất cả chín anh em đã mặc sẵn áo phao, lấy dây mồi buộc vào tay nhau để khi nhà đổ xuống biển vẫn tìm thấy nhau, chết vẫn còn xác. Mỗi khi có cơn sóng kinh hoàng như quả núi trước mặt, họ lại nhắm mắt nín thở cầu mong nhà không đổ và sóng qua mau. Nhưng tất cả đều chỉ là hi vọng. Nhà giàn càng lắc lư chao đảo mạnh theo từng cơn sóng dữ. Mọi người hiểu là có thể phải hi sinh, nhưng rất bình tĩnh, không ai nao núng, đôi khi còn nở những nụ cười lạc quan và trêu nhau chuyện này chuyện nọ. “Nhưng thật ra lúc đó trong tim chúng tôi đang chảy máu. Muốn khóc mà không khóc được”, thiếu úy Thủy nhớ lại.

Sau khi nhận được lệnh cuối cùng từ sở chỉ huy, đại úy Vũ Quang Chương hô lớn: “Tất cả chuẩn bị rời trạm, khi xuống biển nhanh chóng bám chặt vào phao!”. Dù được lệnh như vậy nhưng những người lính hải quân M71 vẫn kiên cường không rời nhà giàn, quyết bám trụ đến phút cuối cùng. Họ hiểu không ai bỏ nhà giàn mà đi khi chưa đổ. Rồi một cơn sóng kinh hoàng, dựng đứng như vách núi, đập mạnh vào nhà giàn, trùm lên đầu họ. Nhà giàn không trụ được nữa. Đại úy Chương lệnh cho tốp đầu bám phao cứu sinh nhảy xuống biển trước, gồm trung úy Nguyễn Văn Hoan, sĩ quan quân y Nguyễn Hữu Tôn, chiến sĩ cơ yếu Hà Công Dụng...

Chương và Thủy bật khỏi nhà giàn sau cùng. Anh Thủy kể: “Tôi mang theo một súng tín hiệu và sáu viên đạn, các tài liệu mật của ngành thông tin rồi lên máy lần cuối. Nói xong lời vĩnh biệt đất liền, tôi ôm bao gạo nhảy xuống biển mà vẫn còn nghe văng vẳng bên tai tiếng gào thét của đồng đội từ nhà giàn Phúc Nguyên 2B phát qua máy Icom: “Thủy ơi, nhảy đi... Nhảy đi, nhà đổ rồi, nhảy đi!...”.

Riêng đại úy Vũ Quang Chương trong giờ phút sinh tử ấy vẫn không quên bổn phận của một chỉ huy, của một người lính đối với đồng đội và Tổ quốc. Trước khi rời nhà giàn, anh cẩn thận đóng tất cả cửa lại, vì nếu nhà giàn đổ thì anh em không bị nước xoáy hút vào trong, không thoát ra được. Rồi Chương nghiêm trang ôm lá cờ đỏ sao vàng vào ngực mình, gấp lại, mang theo. Nhà giàn đổ, anh cùng Thủy lao xuống biển và không hề biết đó là những giây phút cuối cùng của đời mình.

Lúc đó là 3g50 phút ngày 13-12-1998.

14 giờ bập bềnh trên sóng dữ

Thiếu úy Hoàng Xuân Thủy kể: “Lúc chúng tôi lao khỏi nhà giàn trời tối đen như mực, không nhìn thấy gì. Rồi tôi nghe anh Vũ Quang Chương cố gào lên: “Tất cả anh em bám chặt vào phao bè. Nhanh chóng ra khỏi vòng xoáy!”. Ngay lúc đó một cơn sóng lớn ập đến. Anh Chương, An và Hồng bị hất tung, không bám vào dây được nữa. Thật nguy hiểm! Tôi chỉ nghe được những tiếng cuối cùng của anh Chương: Thủy ơi, cứu anh... Bám chặt vào dây em ơi...”. Rồi kể từ đó ba anh mất hút vào đêm đen”.

Còn tốp nhảy xuống đầu cũng bị sóng đánh tan tác. Thiếu tá Tôn kể lại: “Phao cứu sinh bị vỡ ngay khi xuống nước. Tôi phát hiện la lên Hoan ơi, phao vỡ rồi... Chưa dứt lời thì bị sóng đánh bật khỏi phao”. Rất may mọi người sau đó bám được vào chiếc phao bè (loại phao cứu sinh bằng xốp, bên ngoài bọc nhôm), nhưng ngay cả chiếc phao bè cũng bị sóng đánh méo mó, đứt dây liên kết với nhà giàn, trôi tự do...

Lúc này, trong tiếng gào thét không dứt, năm người gồm Hoan, Tôn, Thủy, Dụng và Thuật bám chặt chiếc phao bè móp méo mà chống chọi với sóng cuồng bão giật. Thủy vớ được một thanh gỗ trôi, bẻ đôi làm mái chèo, nhưng thật ra chẳng biết chèo đi đâu. Đúng lúc ấy mọi người phát hiện Thơ, một đồng đội 2A, đang bám vào bao gạo và gần như kiệt sức. Thủy lao ra dìu Thơ lên phao bè. Được sáu người, còn ba người nữa đâu? Lúc này không ai biết ba anh Chương, An, Hồng đã hi sinh.

9g ngày 13-12, Hoàng Xuân Thủy lấy súng tín hiệu bắn ba phát để cấp cứu. Chờ mãi vẫn không thấy có hi vọng gì. Viên cuối cùng anh đưa cho trung úy Hoan bắn, nhưng một cơn sóng mạnh đã cướp viên đạn cấp cứu này khỏi tay anh. Vậy là họ phải tiếp tục chống chọi với sóng gió, tiếp tục trôi giạt đi. Quần áo rách tả tơi, đói, khát, lạnh, kiệt sức. Anh em chỉ biết động viên nhau rồi uống nước biển, ngậm lương khô, tỏi, gừng để cầm hơi và giữ ấm.

14 giờ trôi qua như thế. 14 giờ kiên cường, 14 giờ hi vọng và 14 giờ xao động nỗi niềm riêng. Hoàng Xuân Thủy nhớ lại mà rơi nước mắt: “Lúc đó tôi thương bố mẹ và nhớ đất liền vô cùng. Và tôi còn nhớ anh Nguyễn Văn An nói thế này “Tao chết thì..., chỉ thương vợ tao mới đẻ, tao chưa biết mặt con và tên con vẫn chưa đặt”. Còn thiếu tá quân y Nguyễn Hữu Tôn lặng đi khá lâu, mắt đỏ hoe: “Tôi không nao núng gì vì đi giữ biển là sẵn sàng hi sinh, nhưng thật nhói lòng khi nghĩ đến vợ con. Lúc ấy tôi chỉ mới đưa gia đình từ quê vào sống cạnh đơn vị ở Vũng Tàu thôi. Các con tôi còn quá nhỏ, không biết chúng sẽ ra sao khi không còn tôi”.

17 giờ 30. Trời đã chạng vạng. Thật kinh khủng nếu chiếc phao bè này trôi vào đêm tối. Họ sẽ không còn đủ sức đến ngày mai. Đúng vào lúc đó, đài chỉ huy tàu HQ 606 nghe tiếng thét nghẹn ngào của thượng úy Nguyễn Văn Minh Tông từ vị trí quan sát: “Báo cáo đài chỉ huy... Báo cáo... Có người trên phao! Có người trên phao...”.

Thuyền trưởng Lê Văn Muộn vừa khóc vừa báo về đất liền một cái tin ai cũng chờ đợi. Sáu chiến sĩ hải quân nhà giàn 2A được cứu sống và được đưa lên tàu HQ 606 lúc 18g54 ngày 13-12-1998. Còn ba người nữa! Đồng đội trên các tàu hải quân lữ đoàn 171 tiếp tục tìm kiếm ngày thứ hai, ngày thứ ba và nhiều ngày sau đó. Vẫn không tìm thấy.

Đó là Nguyễn Văn An với niềm khao khát được nhìn mặt và đặt tên đứa con trai đầu lòng.

Đó là Lê Đức Hồng, chàng trai 21 tuổi, chưa biết tình yêu là gì, với những lá thư kết bạn từ báo Tiền Phong còn nằm dưới đáy balô.

Và đó là Vũ Quang Chương, người chỉ huy nằm lại mãi dưới thềm lục địa cùng lá cờ Tổ quốc. Từ quê nhà, cha anh (cũng là một người lính thời chống Mỹ và nạn nhân chất độc da cam) đau xót vô hạn.

BÙI THANH - MAI THẮNG

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Kì 6 : Nhành san hô trên bàn thờ liệt sĩ

TT - Từ Vũng Tàu, chúng tôi tìm về xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy (Thái Bình), nơi có câu chuyện về người bố bao năm đi tìm con dù biết con đã hi sinh, về nhành san hô trên bàn thờ thay hình hài xương cốt.

Thụy Trường là xã tận cùng của Thái Bình ở cực đông bắc tỉnh, một phía giáp biển, một phía giáp cửa sông cách ngăn với thành phố Hải Phòng. Hỏi nhà ông Dương, bố của liệt sĩ Vũ Quang Chương, không ai không biết.

Đêm đêm mơ thấy con về

Chờ ở nhà từ đầu giờ trưa đến tầm non nửa buổi chiều thì ông Vũ Quang Dương theo thuyền đi đánh cá về. Đã ngoài 60 tuổi nhưng ông vẫn không thể bỏ buổi biển nào bởi một phần cuộc sống của mấy bố con - ông cháu nhờ vào đó. “Trong nhà, Chương là đứa con mà tôi kỳ vọng nhất - ông Dương mở đầu câu chuyện với chúng tôi như thế - Bởi thế nên cho đến nay, nó hi sinh hơn 10 năm rồi, không nghĩ nó còn sống, nhưng nhiều đêm tôi vẫn mơ thấy nó về, nhen cho tôi chút hi vọng rằng nó đã bị trôi dạt đến một đảo xa nào đó. Tôi đọc báo thấy có chuyện đã có người dạt lên hoang đảo đến mấy chục năm mới về thì sao”.

40 năm trước, ông Dương là lính đặc công đoàn 429, cuối năm 1967 đơn vị ông hành quân vào mặt trận Tây Ninh khi vợ ông đang mang thai đứa con đầu lòng, sau Tết Mậu Thân thì nhận tin vợ ở nhà sinh con trai, ông mừng lắm. Nhưng phải hơn ba năm sau, năm 1971, khi bị thương, đơn vị đưa ra Bắc ông mới gặp mặt con - đấy là Vũ Quang Chương. Ông cũng không hay những đứa con được sinh ra từ khi ông từ chiến trường trở về mỗi đứa đều mang một căn bệnh nào đó, chỉ có Chương, đứa con đầu được mang thai trước khi ông vào chiến trường, là thông minh và khỏe mạnh nhất.

Vũ Quang Chuyên, em trai thứ ba của Chương, bị thần kinh, rối loạn sắc tố da, đau ốm liên miên ngay từ khi sinh ra. Hai em gái của Chương là Phương và Hồng cũng thường xuyên trở bệnh. Ông Dương chia sẻ nỗi đau ấy với rất nhiều đồng đội, nhưng ông vẫn thầm tạ ơn trời vì dù sao ông vẫn còn có Chương.

18 tuổi học xong cấp III, năm 1986 Chương thi vào trường sĩ quan lục quân. Bốn năm sau tốt nghiệp, anh được tăng cường về hải quân vùng D ở Cam Ranh. Biết con theo binh nghiệp khó về với gia đình, khi nghe tin con đóng quân ở Cam Ranh, ông Dương quyết định chuyển cả gia đình vợ con từ Thái Bình lên Tây nguyên, không chỉ vì chuyện làm ăn trên mảnh đất bazan màu mỡ mà chính là để được gần Chương.

Từ Đắc Lắc về Cam Ranh gần hơn cả chục lần so với từ nơi con đóng quân về tới quê nhà xã Thụy Trường, Thái Thụy xa tít tắp đất Bắc. Ông bảo: “Chỉ có như thế mới gần con được!”. Có lẽ nhờ cái tình yêu tha thiết ấy với con trai nên bảy năm đơn vị Chương đóng quân ở Cam Ranh, bố con, anh em may mắn được gặp nhau chừng mươi lần trước khi Chương được tăng cường về DK1 vào năm 1996. Hơn mười năm trôi qua, nhưng nỗi tiếc thương với đứa con mà ông ấp ủ bao kỳ vọng đã kẻ những nét hằn nặng trĩu trên gương mặt sóng gió can trường của một ngư phủ.

“Nhành san hô tro cốt”

Đốt một nén nhang trên bàn thờ liệt sĩ Chương, ông Dương lặng lẽ bê cành san hô xuống, có lẽ đây là nhành san hô đẹp nhất mà chúng tôi từng thấy: những cành san hô trắng muốt, nở xòe cân đối như một đóa hoa kỳ lạ. “Tôi cũng nghĩ con trai tôi không còn nữa, nhưng không hiểu sao vẫn cứ hi vọng huyễn hoặc, biết đâu như chuyện cổ tích, nó lạc lên hoang đảo nào đó rồi có ngày trở về” - ông Dương nói.

Thế nên sau khi Chương hi sinh, ông Dương và gia đình từ Đắc Lắc về Vũng Tàu dự lễ truy điệu Chương và đồng đội, vậy mà sau đó ông vẫn cứ thu xếp tìm đến những nơi con trai từng đóng quân như Hải Phòng, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu… với hi vọng biết đâu Chương còn sống và trở về. Thời gian theo ngày tháng cứ dày lên kéo xa dần những trông ngóng của ông. Đi tìm mãi cho đến một ngày ông ngỏ lời với đồng đội của con: “Các con mang về cho bác một cành san hô ngay vị trí nhà giàn bị đổ để bác đặt lên bàn thờ, coi như đó là tro cốt của Chương”.

Năm ngoái, thiếu tá Nguyễn Thế Dĩnh, phó chính trị viên DK1, đã mang được cành san hô từ lô Phúc Nguyên 2A về và anh cẩn thận không dám gửi theo đường bưu điện sợ bị gãy. Phải đợi đến lúc có người quen ra Thái Bình anh mới dám gửi theo về.

Giờ thì ông Dương đang nâng niu cành san hô đẹp kỳ lạ ấy, đứa cháu gái thấy ông làm vậy cũng sà vào phụ lau chùi cùng ông. Ông Dương vừa lấy chiếc khăn mềm lau bụi cho cành san hô vừa thầm thì: “Đây là xương của bác Chương mày đấy cháu ạ!”. Chúng tôi lạnh người và chợt nhói lòng khi nghĩ đến còn bao nhiêu người lính đã nằm lại ngoài biển khơi, không mấy ai được mang thân xác trở về. Vì thế nhành san hô trên bàn thờ của liệt sĩ Chương hôm nay như hiện thân của linh hồn và thân xác những chiến sĩ đã lẫm liệt hi sinh trên biển ấy.

Sau khi Chương hi sinh, ông Dương cũng không ở Đắc Lắc nữa, “ở đó chỉ để mong được gần con, nay con hi sinh thì mình về lại quê”, ông bảo vậy. Còn mẹ Chương đang bị bệnh liệt, nằm chữa trị ở đó cùng người con gái. Ông đưa Chuyên, đứa con trai thứ ba bị ảnh hưởng chất độc da cam (và mang thêm bệnh thần kinh) về lại Thụy Trường. Cùng với số tiền 40 triệu đồng của Bộ tư lệnh quân chủng Hải quân và đoàn M71 hỗ trợ xây căn nhà tình nghĩa, ông “cắm” thêm sổ hưu ở ngân hàng để xây một căn nhà bề thế, có nơi thờ tự Chương chu đáo.

“Hồi trước, Chương nó bảo đi lính về sẽ đóng gạch xây cho bố một ngôi nhà thật oách, cưới vợ đẻ cho bố một đàn cháu. Nay xây được nhà rồi mà nó lại không về để ở. Giá như nó kịp có một người vợ, một đứa cháu cho tôi. Đằng này khi hi sinh nó chưa có cả người yêu...”. Giọt nước mắt tuổi già hiếm hoi chợt lăn trên khuôn mặt sạm đen của ông…

LÊ ĐỨC DỤC

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Kỳ 7: Có những niềm riêng

TT - Khi loạt bài này đăng kỳ đầu tiên cũng là lúc đại diện Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, lãnh đạo lữ đoàn 171 đến thăm gia đình những người lính DK1 có hoàn cảnh khó khăn. Mỗi gia đình là một hoàn cảnh, một câu chuyện, những người vợ lính chúng tôi đã gặp đều xứng đáng được kể ra đây như một phần không thể thiếu khi nói đến 20 năm của DK1.

Những mùa “tuyển quân”

Về với lính DK1 sẽ biết thêm một khái niệm mới của từ “tuyển quân”. Đó là chuyện những người vợ “lên kế hoạch” để được gần chồng, được mang thai em bé. Có thai là coi như “tuyển quân” thành công. Chồng là bộ đội DK1, một năm gần chồng vẻn vẹn chưa đầy 30 ngày phép. Với thời gian ngắn ngủi ấy muốn sinh con thật không dễ, nên khi chồng hết thời gian nghỉ phép ở quê nhà mà vẫn chưa “kết quả”, các chị xin đi theo chồng vào đơn vị tiếp tục “tuyển quân”.

Chuyện “tuyển quân” của thiếu tá Trần Văn Lợi - chính trị viên nhà giàn Tư Chính IV - được nhiều cán bộ chiến sĩ nhà giàn kể với nhau như một “thành công mang tính thuyết phục”.

Vợ chồng anh cưới nhau năm 1999, chưa xong tuần trăng mật anh Lợi phải vào lại đơn vị để ra nhà giàn thay trực cho đồng đội về bờ, để lại quê nhà người vợ trẻ cùng mẹ già 85 tuổi. Trong căn nhà nhỏ ở Lưu Sơn (Đô Lương, Nghệ An), chị Hà Thúy Vân (vợ anh Lợi) và mẹ già luôn ước ao có một đứa cháu để vui cửa vui nhà. Vậy là tháng 10-2000, chị Vân xin chồng vào đơn vị “tuyển quân” đúng lúc anh Lợi từ biển trở về nhưng “trận ấy thất bại”. Tháng 8-2005, anh Lợi nghỉ phép, 30 ngày ngắn ngủi gần vợ cũng chẳng kết quả gì.

Chị Vân bàn với chồng: “Thua keo này ta bày keo khác. Lần này anh cho em theo, nhất định mình sẽ thắng lợi”. Rồi chị khăn gói theo chồng vào Vũng Tàu. “Tổ ấm dã chiến” của họ là một phòng tại nhà khách của lữ đoàn 171. Sau hơn hai tuần chị Vân có thai, anh Lợi tiếp tục ra nhà giàn. Chị Vân phấn khởi về quê khoe mẹ chồng. Kết quả lần “tuyển quân” ấy của vợ chồng Lợi - Vân bây giờ đã là một cháu bé đang học mẫu giáo và sau đó thêm một chú nhóc nữa nay gần 2 tuổi.

Tuy nhiên, không phải vợ lính nào đi “tuyển quân” cũng thành công. Chúng tôi ghé thăm chị Nguyễn Thị Chiến - vợ của thiếu tá y sĩ Bùi Văn Dong ở nhà giàn DK1/17. Có với nhau một cháu gái, cháu đã lớn mà vẫn chưa có đứa thứ hai, chị Chiến từ quê vào Vũng Tàu thuê căn nhà nhỏ để được gần chồng khi anh trở về từ biển cả. Căn nhà thuê của vợ chồng chị ở 41/7 Đô Lương chưa đầy 15m2, chỉ đủ kê chiếc giường và bàn bếp, vậy mà cứ rộng thênh vì luôn vắng bóng chồng. Ngày đêm chị lủi thủi một mình, đêm về làm bạn với chiếc giường cũ kỹ.

Hôm chúng tôi đến tặng quà, chị Chiến bần thần: “Tôi vào đây đã chín năm, chỉ mong có thêm đứa con nữa. Anh Dong đã sáu lần về mà mãi chưa được”.

Và những mùa chia xa

Chuyện chị Đặng Thị Huấn - vợ thiếu tá Phan Thế Hưng, chính trị viên nhà giàn Quế Đường - như một “điển hình vợ lính” DK1 mà chị em ở đây vẫn hay kể. “Năm 1984 vợ chồng tôi cưới nhau và đến nay đã 25 năm - nhưng thời gian gần chồng chỉ tính trên đầu ngón tay thôi. Với chưa đầy 24 tháng gần chồng chia đều cho 25 năm” - chị Huấn nói. Ngày mới cưới anh Hưng đóng quân ở biên giới Lạng Sơn. Năm 1994 anh chuyển về DK1 công tác. Đã xa chồng biền biệt nay lại xa hơn. Nhiều đêm giữa núi rừng Vĩnh Phúc, chị ôm con thao thức không sao ngủ được.

Năm 1999 chị Huấn bồng hai con vào Vũng Tàu tìm chồng đúng lúc anh Hưng đang ngoài nhà giàn. Căn phòng trọ mấy mẹ con thuê chỉ hơn chục mét vuông vừa đủ kê chiếc giường đơn. Để có tiền nuôi con, chị Huấn phải dậy từ 4 giờ sáng đi lột da cá bò mỗi ngày chỉ kiếm được vài ngàn đồng. Những ngày chị đi xẻ cá bò phải để hai con ở nhà, đứa lớn trông đứa nhỏ. Có hôm chị “nhốt” hai con tự chơi với nhau. Khi em khóc, đứa anh hỏi: “Em có ăn mì tôm không?”, em lắc đầu, vậy là hai anh em ôm nhau ngủ thiếp đi. Khuya chị đi làm về, nhìn con mà rơi nước mắt.

Bây giờ con trai đầu của chị là Phan Thế Hiện đã 21 tuổi, đang là sinh viên một trường ĐH tại TP.HCM. Con trai thứ hai là Phan Thế Lương đang học lớp 11 Trường Nguyễn Huệ (Vũng Tàu). Chị Huấn đang chăm nuôi tám cháu nhỏ là con đồng đội của chồng ở nhà mình. “Tôi yêu các cháu như con tôi. Các cháu đều gọi tôi là mẹ. Nhiều bữa bố mẹ các cháu đến đón về nhưng các cháu cứ nằng nặc đòi ở lại với mẹ Huấn” - chị Huấn bộc bạch.

Lá thư của chị Cao Thị Hồng ở xã Thượng Hóa (huyện Minh Hóa, Quảng Bình) - vợ của thiếu tá Trương Văn Thủy, chỉ huy trưởng nhà giàn DK1/8 - viết cho chồng thật nhiều nỗi niềm: “... Nếu nói về vợ lính thời bình không thiệt thòi là không đúng, nhưng đã là vợ lính thì phải biết chấp nhận hi sinh vì nghĩa lớn đúng không anh. Hôm con ốm, em cõng con vượt rừng đến bệnh xá và ba đêm không ngủ vì phải giành giật sự sống cho con từ tay tử thần. Hằng ngày phải đối mặt với bao khó khăn cơm áo gạo tiền, rồi tâm lý xa chồng, em cắn răng chịu đựng nỗi cô đơn vì vắng anh. Rồi khó khăn tất cả cũng vượt qua. Nhiều khi em nghĩ vợ lính thời bình mà phải chịu cách xa, nhưng em thấy tự hào có chồng là bộ đội DK, những lúc nhớ anh chỉ biết gửi tình yêu vào trang thư này”.

Anh Thủy kể lần ấy con ốm, vợ anh một mình cõng con vượt 5 cây số đường rừng đến bệnh xá xã. Con sốt quá cao, chị Hồng chỉ biết ôm con đi quanh hành lang chờ bác sĩ. Giữa đêm tối lạnh căm căm, cả hai mẹ con đều khóc. Những lúc ấy chỉ mong có một bờ vai tin cậy của người chồng, người bố để vợ con tựa vào, nhưng ước mơ rất bình thường với mỗi người ấy thì với vợ của những người lính DK1 thật quá xa vời.

Chúng tôi đến thăm gia đình thiếu úy Trần Văn Tiên chỉ vài giờ trước khi anh theo tàu đi công tác. Hai vợ chồng dành dụm làm được căn nhà chừng 30m2, ẩm thấp, lọt thỏm giữa các khối nhà cao tầng. Trong nhà tuềnh toàng, không có tủ bàn hay vật dụng gì ngoài chiếc giường đơn sơ. Từ bốn năm nay tất cả tiền lương của hai vợ chồng (vốn chẳng nhiều nhặn gì) đều dồn vào chạy chữa cho đứa con sinh thiếu tháng, khi sinh ra cháu nặng 1,2kg, bị tim bẩm sinh, ảnh hưởng phổi, mắt... Chồng đi theo nhà giàn, vợ ôm con đi hết viện nhi này đến bệnh viện khác, bé gái 4 tuổi rồi vẫn thường trú ở viện nhiều hơn ở nhà...

Có rất nhiều câu chuyện như thế khi gặp những người vợ của lính nhà giàn và nhờ có sự hi sinh lớn lao của họ, những người chồng chiến sĩ đã vững tâm vững lòng giữ thềm lục địa Tổ quốc.

MAI THẮNG

toilathanhnienhanhdong 262 ngày trước - Link 0 Tag + -

Ông Nguyễn Văn Phương, phó giám đốc Sở Lao động - thương binh & xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu:

Hằng năm Sở Lao động - thương binh & xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đều tặng quà các gia đình quân nhân DK1 có hoàn cảnh khó khăn vào dịp Tết Nguyên đán. Tết Kỷ Sửu vừa qua chúng tôi tặng 19 đầu thu vệ tinh TDH trị giá 38 triệu đồng và 15 bộ thể thao đa năng. Đến từng gia đình mới thấy những khó khăn vất vả, thiếu thốn của họ.

Họ chịu đựng gian khổ, nuôi con gánh vác gia đình. Năm nay, căn cứ vào nhu cầu của bộ đội, sở sẽ tham mưu đề nghị tỉnh tặng quà các nhà giàn cụ thể, thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ trong phạm vi kinh phí cho phép. Chúng tôi sẽ quan tâm hơn nữa đến đời sống gia đình cán bộ chiến sĩ DK1.

nudaehi 260 ngày trước - Link 0 Tag + -

Những bài như thế này thì lũ chó phản động điếu có gan chõ mõm vào mà sủa. Đúng là ngoài cụm từ "lũ súc sinh" ra thì không còn từ nào khác để nói đến bọn chó má đó nữa!

luule 260 ngày trước - Link 0 Tag + -

Nhìn lại lịch sử những năm gần đây,khi Trung quốc có những hành động để TH mộng bành trướng xuống vùng biển phía nam(biển Đông của VN).

Năm 1982, với tư cách một trong 5 nước thành viên thuộc Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, Trung Cộng hoan hỷ ký Công Ước về Luật Biển. Ký xong Công Ước, Bắc Kinh mới thấy lo! Theo Công Ước các quốc gia duyên hải chỉ có 200 hải lý, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá, vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa 270 hải lý, và Trường Sa cách Hoa Lục 750 hải lý, nên không thuộc hải phận (thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế đánh cá) của Trung Quốc.

Vì vậy, cuối năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả Trung Hoa ngày đêm nghiên cứu thảo luận ròng rã trong suốt 10 năm, để kết luận rằng "Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ thời Hán Vũ Đế ".

Đây là thái độ trịch thượng võ đoán của phe đế quốc, cũng như Đế Quốc La Mã thời xưa coi Địa Trung Hải là "biển lịch sử của chúng tôi!"

Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển, cách Quảng Ngãi 40 hải lý, cách Nam Dương 30 hải lý, cách Mã Lai và Phi Luật Tân 25 hải lý. Nó bao gồm toàn thể vùng biển Hoàng Sa Trường Sa và chiếm trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân.

Tuy nhiên về mặt pháp lý, nếu Ấn Độ Dương không phải là đại dương của Ấn Độ, thì Nam Hải cũng không phải là biển của Trung Hoa về phía Nam.

Vả lại theo Tòa Án Quốc Tế La Haye, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn nữa Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc cũng bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8: "Biển lịch sử hay nội hải của một quốc gia tọa lạc trong lục địa hay đất liền, bên trong bờ biển hay đường căn bản" (đường căn bản là lằn mực thủy triều xuống thấp).

Do đó Biển Nam Hoa hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung Quốc vì nó là ngoại hải và cách lục địa Trung Hoa hơn 2000 cây số.

luule 260 ngày trước - Link 0 Tag + -

Và công trình 10 năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Hoa chỉ là công "dã tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì"!thất bại hoàn toàn.

Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung quốc đề ra kế hoạch 4 bước để xâm chiếm Biển Đông về kinh tế:

1) Ký kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ năm 2000 để hủy bãi Hiệp Ước Bắc Kinh 1887 (theo đó Việt Nam được 63% và Trung Hoa được 37%. Nếu theo đường trung tuyến, hai bên được chia đều 50%. Tuy nhiên trên thực tế, Trung Cộng không theo đường trung tuyến và đã đề ra 21 điểm tiêu chuẩn phân định theo đó Việt Nam chỉ còn 45% so với 55% của Trung Hoa.

2) Ký kết Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá năm 2000 để thiết lập Vùng

Đánh Cá Chung 60 hải lý. Và Việt Nam chỉ còn 25% tại vĩ tuyến 17, và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tàu đánh cá viễn duyên, với các lưới cá dài 50 hải lý, và nhất là với sự cấu kết đồng lõa của đội tuần cảnh duyên hải Việt Nam, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến thành khu đánh cá tự do cho đội kình ngư Trung Quốc mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tàu ráo máng.

3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ còn một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ khởi sự hợp tác khai thác dầu khí. Dầu khí là do các chất hữu cơ kết tụ trong các thủy tra thạch kết tầng dưới đáy biển. Các chất hữu cơ này được nước phù sa Sông Hồng Hà từ Vân Nam và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra Biển Đông từ cả triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu có, là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam, chứ không phải từ Hoa Lục. Mặc dầu vậy, tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đã đề ra nhiều dự án thăm dò và khai thác dầu khí, như "Dự Án Quỳnh Hải" bên bờ đảo Hải Nam và "Dự Án Vịnh Bắc Bộ" phía Bắc vĩ tuyến 20. (Khi dùng danh xưng "Vịnh Bắc Bộ", Trung Quốc mặc nhiên nhìn nhận rằng đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. Vì nếu là củaTrung Hoa thì phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới đúng địa lý).

4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi thành tựu kế hoạch đánh cá

và khai thác dầu khí chung tại Bắc Việt nam, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và Nam bộ. Điều đáng lưu ý là vùng lãnh hải này thuộc thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế đánh cá 200 hải lý của Việt Nam nên thuộc chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam. Ở đây không có sự trùng điệp hay chồng lấn hải phận như trường hợp Vịnh Bắc bộ.

Không ai ngu dại gì cho người nước ngoài đến đánh cá và khai thác dầu khí chung tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế riêng của nước mình. Chiếu Điều 77 Luật Biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia duyên hải. Mọi sự chiếm cứ bất cứ từ đâu tới cũng đều vô hiệu, nhất là chiếm cứ võ trang (trường hợp Trung quốc dùng võ trang chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa từ năm 1988).

Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc VN từng bước hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc bộ đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa theo lời cam kết của Công hàm.. ngày 14/9/1958.

Giai đoạn hiện nay là giai đoạn thu hồi những gì mà nhà nước VN dâng bằng hai tay cho TQ trong thời gian vừa gần hai thập kỷ vừa qua.

choanhngutrongtraitimem 223 ngày trước - Link 0 Tag + -

"Ơi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt,

như mẹ cha ta,như vợ như chồng

Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết,

cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông!"

Gửi ý kiến